Chương trình Hỗ trợ rừng và trang trại Việt Nam
The forest and farm facility in Vietnam

Bản tin FFF


KHUYẾN NGHỊ PHƯƠNG ÁN ĐẦU TƯ TRỒNG RỪNG PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG BÃI THẢI NGÀNH THAN TẠI TỈNH QUẢNG NINH
2018-12-06 10:55:25

Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam là một đơn vị đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ môi trường, hoàn nguyên môi trường sau khai thác than, thể hiện qua việc tích cực triển khai thực hiện nhiều dự án đầu tư trồng rừng phục hồi môi trường trên bãi thải trong những năm gần đây. Hiện nay, có một bài toán đang đặt ra đối với Vinacomin là sự phù hợp của phương án đầu tư trồng rừng trên các bãi thải mỏ theo hướng trồng rừng phục hồi môi trường kết hợp lấy gỗ trụ mỏ phát triển kinh tế rừng tại Quảng Ninh.

Tác giả: Ths. Phạm Thế Tấn (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam)

ĐẶT VẤN ĐỀ

        Quảng Ninh là một vùng khai thác, chế biến tiêu thụ than có quy mô lớn và phạm vi rộng, kéo dài từ Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Hạ Long tới Cẩm Phả với 24 mỏ lộ thiên và 49 mỏ hầm lò. Khi sản lượng khai thác than ngày càng tăng lên đồng nghĩa với việc diện tích bãi thải ngày càng mở rộng. Quá trình khai thác than đã và đang trực tiếp làm thay đổi môi trường xung quanh, phá vỡ cân bằng sinh thái tự nhiên, gây ra ô nhiễm môi trường. Đặc biệt, những biến đổi địa hình và cảnh quan diễn ra chủ yếu ở khu vực khai thác lộ thiên. Các bãi đổ thải tạo nên những quả đồi như Cọc Sáu, Đèo Nai, Cao Sơn, Bàng Nâu và Núi Béo … Các quả đồi bãi thải này đều có sườn dốc dài, độ dốc cao, đất đai bị bóc đi lớp đất màu, rất dễ bị xói mòn, nên không thuận lợi cho việc tái trồng rừng phủ xanh mặt đất.

        Mặc dù Vinacomin đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ môi trường, hoàn nguyên môi trường sau khai thác thông qua việc tích cực triển khai thực hiện nhiều dự án đầu tư trồng rừng để khắc phục, xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác than gây ra. Tuy nhiên, công cuộc cải tạo, phục hồi môi trường bãi thải mỏ than mới chỉ trong giai đoạn đầu, vẫn còn thiếu rất nhiều thông tin trong việc nghiên cứu lựa chọn các phương án trồng rừng phù hợp để ngoài việc đáp ứng được các điều kiện khắc nghiệt bãi thải (nghèo dinh dưỡng, kết cấu nền không ổn định, khô hạn …)  mà vẫn phải đảm bảo được hiệu quả đầu tư tài chính. Chính vì vậy, trong thời điểm hiện nay, Vinacomin đang cân nhắc và xem xét phương án đầu tư trồng rừng trên các bãi thải mỏ theo hướng trồng rừng phục hồi môi trường kết hợp lấy gỗ trụ mỏ và phát triển kinh tế rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, qua đó vừa thực hiện được các yêu cầu bảo vệ môi trường, vừa tạo ra giá trị kinh tế nhờ việc tận dụng sản phẩm rừng trồng làm gỗ trụ mỏ phục vụ quá trình khai thác than.

         Bài viết này sử dụng các kết quả nghiên cứu đã có để cung cấp thêm thông tin về hiệu quả tài chính trong các phương án đầu tư trồng rừng sản xuất cung cấp gỗ trụ mỏ hiện đang được triển khai trên địa bàn và một số thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm nguyên liệu gỗ rừng trồng tại tỉnh Quảng Ninh. Tác giả bài viết rất mong những thông tin trong bài viết này có thể giúp cho Vinacomin có được căn cứ tin cậy để lựa chọn được phương án đầu tư trồng rừng phù hợp với mục tiêu phục hồi tốt môi trường và tạo ra giá trị về kinh tế to lớn ngay trên diện tích bãi thải của ngành Than.

1. GIỚI THIỆU CÔNG TÁC TRỒNG RỪNG PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG BÃI THẢI NGÀNH THAN TẠI QUẢNG NINH

            Tại Quảng Ninh có hai khu đổ thải lớn là Cẩm Phả phục vụ các Công ty than khai thác lộ thiên là Cọc Sáu, Cao Sơn, Đèo Nai và vùng Hạ Long là các Công ty Hà Tu, Núi Béo, Hòn Gai. Hiện nay, một số bãi thải mỏ cần phải cải tạo, phục hồi môi trường như: Bãi thải Chính Bắc - Núi Béo, Nam Lộ Phong, Ngã Hai - Quang Hanh, Mông Gioăng - Đèo Nai, Đông Cao Sơn - Cọc Sáu… Theo Dự án cải tạo phục hồi môi trường của ngành Than đã được phê duyệt, các đơn vị trong ngành Than sẽ phải hoàn thành trồng trên 4.000 ha diện tích rừng trồng. Thực hiện dự án này, thời gian qua các đơn vị ngành Than đã tăng cường trồng rừng tại các khai trường, bãi thải đã ngừng hoạt động và chuẩn bị diện trồng rừng cho các vị trí bãi thải, khai trường sắp kết thúc khai thác. Tính đến hết năm 2017, các đơn vị ngành Than trên địa bàn đã trồng được hơn 1.000 ha rừng tại các bãi thải, khai trường đã ngừng hoạt động (dự kiến đến năm 2020 sẽ trồng được khoảng 1,600 ha rừng).

            Để thực hiện các dự án trồng rừng phục hồi môi trường các bãi thải, Vinacomin giao cho Công ty Môi trường - TKV trực tiếp đảm nhận, triển khai các dự án. Theo lộ trình tiến hành công việc như sau: sau khi các đơn vị sản xuất than hoàn thành việc khai thác, toàn bộ bãi thải cũng như khai trường sẽ được Công ty Môi trường - TKV đảm nhận và tiến hành san gạt mặt bằng theo phương pháp cắt tầng, hạ độ cao, xây dựng đê ngăn chắn dưới chân để ngăn chặn tối đa việc đất đá trôi chảy ảnh hưởng tới khu vực dân cư, sông suối. Sau khi tiến hành xong mặt bằng, Công ty sẽ tiến hành trồng cây để phủ xanh bãi thải. Các loài cây trồng được lựa chọn dựa trên tình hình thực tế tại các khai trường, bãi thải, cụ thể như sau: Ở các bãi thải mới từ 1 đến 5 năm, lựa chọn các loài cây có khả năng thích ứng với điều kiện khắc nghiệt của bãi thải và khả năng giữ ổn định sườn bãi thải, chống xói lở (gồm có: sắn dây dại, bìm bìm, lau le, chít, tre gai, cỏ vetiver); đối với các bãi thải tồn tại từ 5 đến 10 năm tương đối ổn định, lựa chọn trồng những loài thân gỗ có khả năng chịu hạn, thích ứng với điều kiện đất đá của bãi thải và có tiềm năng cho thu nhập từ sản phẩm gỗ (gồm có: phi lao, keo lai, keo chịu hạn, keo đen, thông đuôi ngựa, thông nhựa…trong đó cây keo tai tượng và keo lá tràm là cây trồng chủ đạo, với mật độ trồng rừng dao động từ 4.000 đến 5.000 cây/ha).

            Hàng năm Vinacomin đều trích lập Quỹ môi trường tập trung từ 1-1,5% chi phí sản xuất, đồng thời cho phép các đơn vị thành viên chi 0,3-0,5% chi phí sản xuất cho công tác bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, Vinacomin còn hợp tác với các đối tác nước ngoài trong công tác cải tạo phục hồi môi trường tại các bãi thải mỏ. Các dự án hợp tác quốc tế với các đối tác NEDO, JOGMEC - Nhật Bản (xử lý môi trường mỏ, phủ xanh bãi thải mỏ), MIRECO - Hàn Quốc (cải tạo và hoàn nguyên mỏ, xử lý nước thải mỏ, phủ xanh bãi thải mỏ, đào tạo cán bộ trong lĩnh vực môi trường), RAME - LB Đức (ổn định và phủ xanh bãi thải mỏ, xử lý nước thải mỏ) đã phần nào đã thể hiện mối quan tâm sâu sắc và trách nhiệm của Vinacomin trong việc đảm bảo môi trường cũng như đảm bảo chiến lược phát triển bền vững của tập đoàn.

2. HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH PHƯƠNG ÁN TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT GỖ TRỤ MỎ TẠI TỈNH QUẢNG NINH

a. Giới thiệu ngàng hàng gỗ trụ mỏ tại tỉnh Quảng Ninh

            Quảng Ninh là một trong bốn tỉnh trọng điểm sản xuất cung ứng gỗ trụ mỏ phục vụ ngành công nghiệp khai thác than tại Việt Nam.  Trong những năm 1980 - 2000 do áp lực khai thác rừng quá lớn đã làm suy giảm nhanh chóng cả số lượng và chất lượng rừng làm cho các công ty khai thác than trên địa bàn cũng bị ảnh hưởng dẫn tới nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng nguồn gỗ chống lò trong kế hoạch tổ chức sản xuất khai thác than. Để giải quyết khó khăn này, Tổng Công ty Than (nay là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam) và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh đã quyết định phối hợp thực hiện “Dự án tạo rừng gỗ mỏ phục vụ khai thác than”. Dự án được thực hiện dưới hình thức các công ty than ứng trước vốn cho các lâm trường trồng rừng (nay là các công ty TNHH MTV lâm nghiệp), các lâm trường trả lại gỗ sau khi rừng trồng đạt tới tuổi thành thục công nghệ. Có thể nói, dự án tạo rừng gỗ mỏ phục vụ khai thác than đã đem lại lợi ích cho cả hai bên, trong đó ngành than có nguồn cung cấp gỗ trụ mỏ ổn định để phục vụ sản xuất; các đơn vị lâm nghiệp được tháo gỡ khó khăn về vốn trồng rừng, chăm sóc rừng, có nguồn thị trường tiêu thụ gỗ trụ mỏ ổn định (ngoài việc trồng rừng tạo gỗ mỏ theo kế hoạch thì các công ty lâm nghiệp cũng tăng cường làm dịch vụ thu mua gỗ mỏ cho các công ty than). Bên cạnh đó, dự án cũng mang lại việc làm và thu nhập cho hàng ngàn người lao động trong các đơn vị lâm nghiệp, cũng như hàng ngàn hộ dân vùng sâu, xa, đồng bào dân tộc thiểu số đang tham gia các hoạt động trồng rừng (thông qua các hoạt động thu mua gỗ mỏ của các công ty lâm nghiệp). Ngoài ra, dự án cũng góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, nâng độ che phủ rừng của Quảng Ninh tăng từ 38% (năm 1998) lên 53,8% (năm 2015).

b. Phương án trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ tại tỉnh Quảng Ninh

            Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Lâm nghiệp (năm 2016) cho: trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, các hộ gia đình và công ty lâm nghiệp là hai đối tượng chủ yếu tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất trồng và chăm sóc rừng. Tuy nhiên, chỉ có các công ty lâm nghiệp mới là đối tượng trồng rừng có phương án sản xuất cụ thể theo mục đích tạo ra sản phẩm gỗ nguyên liệu dùng làm cọc chống, cột chống phục vụ hoạt động khai thác than. Trong quá trình thực hiện phương án trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ, các công ty lâm nghiệp được nhận vốn ứng trước từ ngành Than để đầu tư trực tiếp vào các hoạt động trồng rừng. Đến thời điểm khai thác rừng, một phần gỗ nguyên liệu đủ tiêu chuẩn sẽ được sử dụng làm gỗ trụ mỏ để cung cấp cho công ty khai thác than theo khối lượng và giá bán đã được quy định từ trước đó (đây là hình thức ứng vốn và chốt giá sản phẩm từ đầu kỳ); phần sản phẩm gỗ nguyên liệu còn lại sẽ được công ty lâm nghiệp tiêu thụ cho mục đích sản phẩm khác (giá sản phẩm theo giá thị trường tại thời điểm bán).

c. Hiệu quả tài chính phương án trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ tại Quảng Ninh

            Trên thực tế thì các công ty lâm nghiệp ở Quảng Ninh hầu hết đều nhận vốn ứng để trồng rừng cung cấp gỗ mỏ từ ngành Than. Tuy nhiên, để có thể làm rõ hơn vai trò của nguồn vốn ứng từ ngành than trong phương án trồng rừng của công ty lâm nghiệp thì bài viết này cũng tiến hành xem xét thêm một trường hợp giả định để đối chứng, đó là trường hợp “công ty lâm nghiệp không nhận ứng vốn ngành Than, tức là phải đi vay vốn để đầu tư trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ”. Sau đây là thông tin về kết quả phân tích hiệu quả tài chính phương án trồng rừng của công ty lâm nghiệp[1] dựa trên hai trường hợp khác nhau.

            Thông tin mô hình:            

              - Đối tượng trồng rừng: Công ty lâm nghiệp

              - Loài cây trồng: Keo tai tượng

              - Mật độ trồng rừng: 2000 cây/ha

              - Chu kỳ kinh doanh: 7 năm

              - Phương thức trồng rừng: canh tác thủ công

              - Sản lượng sản phẩm sau khai thác: 81 m3

              - Tỷ lệ sản phẩm: NL gỗ trụ mỏ 53%; NL dăm 47%

              - Tỷ lệ triết khấu (r): 10%

              - Lãi suất vay vốn (giả định): 10%

            Kết quả phân tích hiệu quả tài chính:

(Đơn vị tính: triệu VNĐ; ĐVSP: 1 m3 gỗ trụ mỏ)

Trường hợp

CHỈ SỐ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH

CƠ CẤU GIÁ TRỊ SẢN PHẨM

NPV

BCR

IRR

(%)

Chi phí trung gian

Giá trị gia tăng

Chi phí ĐVSP

Thu nhập ĐVSP

Lợi nhuận ĐVSP

CTLN nhận ứng vốn ngành Than

4,97

1,13

14

0,20

0,76

0,67

0,96

0,29

CTLN không nhận ứng vốn ngành Than

1,20

1,02

11

0,20

0,76

0,72

0,96

0,24

(Nguồn số liệu: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Lâm nghiệp, năm 2017)

            Kết quả phân tích hiệu quả tài chính và cơ cấu giá trị trong phương án trồng rừng cung cấp gỗ trụ mỏ của công ty lâm nghiệp cho thấy: Với cả 02 trường hợp công ty lâm nghiệp nhận ứng vốn ngành Than hoặc không nhận ứng vốn để thực hiện phương án trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ thì đều có được mức lợi nhuận dương (mức lợi nhuận trung bình đạt khoảng 20 đến 25 triệu đồng trên một ha rừng trồng). Tuy nhiên, xem xét trên góc độ của nhà đầu tư tài chính thì hiệu quả sử dụng vốn của cả 02 trường hợp này đều thấp (mức sinh lời trung bình chỉ đạt được từ 4,7 - 6,1%/năm). Bên cạnh đó, tỷ suất thu hồi vốn nội bộ trong phương án trồng rừng cung cấp gỗ trụ mỏ cũng không cao (đặc biệt trong trường hợp công ty lâm nghiệp không có hỗ trợ vốn của ngành Than, IRR chỉ đạt 11%), điều đó có nghĩa là nếu không như công ty không tiếp cận được nguồn vốn vay nào có mức lãi suất ưu đãi nhỏ hơn 11%/năm thì công ty lâm nghiệp thực hiện phương án trồng rừng cung cấp gỗ mỏ sẽ bị thua lỗ.

            Nói tóm lại: phương án sản xuất trồng rừng cung cấp gỗ trụ mỏ tại Quảng Ninh là hoạt động đầu tư có mức sinh lời thấp, có nhiều rủi ro. Mặc dù cũng có khả năng sinh lợi nhuận nhưng phải phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn ưu đãi để thực hiện các chi phí trong quá trình sản xuất.

3. THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ NGUYÊN LIỆU GỖ RỪNG TRỒNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH

a. Sản phẩm chế biến sử dụng nguyên liệu gỗ rừng trồng tại tỉnh Quảng Ninh

            Theo kết quả thống kê của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Ninh, số lượng các doanh nghiệp sản xuất chế biến gỗ trên toàn tỉnh Quảng Ninh  là 381 cơ sở, bao gồm: 124 cơ sở là các doanh nghiệp (nhà nước, tư nhân) và còn lại 257 cơ sở sản xuất quy mô hộ gia đình. Các cơ sở chế biến gỗ đã và đang sử dụng nguyên liệu rừng trồng để sản xuất ra các loại sản phẩm chủ yếu như sau:

       Sản phẩm gỗ xẻ, đồ gỗ các loại

       Số liệu điều tra khảo sát cho thấy: Sản lượng các mặt hàng đồ gỗ và gỗ xẻ của các cơ sở chế biến liên tục tăng qua các năm từ 2006 đến nay. Mức độ tăng trưởng hàng năm của các sản phẩm đồ gỗ khoảng 15 % và đối với gỗ xẻ đạt 20 %. Các sản phẩm như đồ gỗ các loại, bao bì, pallette, gỗ xẻ, chủ yếu được tiêu thụ tại địa phương và các tỉnh lân cận. Chỉ có một số ít các sản phẩm đồ gỗ chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu.

       Sản phẩm ván ghép thanh

            Đây là mặt hàng có mức độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 17.65 %. Các cơ sở sản xuất ván ghép thanh tập trung ở các huyện Ba Chẽ, Vân Đồn và Uông Bí . Sản phẩm ván ghép thanh được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang các nước EU, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc,...

       Sản phẩm ván mỏng (ván bóc)

            Sản xuất ván mỏng từ gỗ rừng trồng là xu hướng đang phát triển ở rất nhiều tỉnh trong cả nước, nhưng ở Quảng Ninh còn chậm phát triển và chủ yếu ván mỏng cũng chỉ dùng cho xuất khẩu. Cơ sở sản xuất ván mỏng tập trung ở huyện Tiên Yên, huyện Vân Đồn và thị xã Quảng Yên. Sản phẩm ván bóc sau khi sản xuất ra được xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Trung Quốc (chiếm 70 %) và thị trường Ấn Độ (chiếm 30 %).

       Sản phẩm dăm mảnh

            Dăm mảnh xuất khẩu vẫn đang là sản phẩm chính của ngành chế biến gỗ hiện nay của tỉnh Quảng Ninh. Các cơ sở băm dăm tập trung nhiều ở các địa phương có diện tích rừng trồng lớn của Quảng Ninh như ở huyện Hoành Bồ, Tiên Yên, Hạ Long, Cẩm Phả, Hải Hà, Ba Chẽ, Đầm Hà ... Hiện nay các sản phẩm dăm gỗ đang được xuất khẩu sang Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc...

       Sản phẩm gỗ trụ mỏ

Quảng Ninh là một trong bốn tỉnh trọng điểm sản xuất cung ứng gỗ trụ mỏ phục vụ ngành công nghiệp khai thác than tại Việt Nam. Thông qua các Dự án tạo rừng gỗ mỏ phục vụ khai thác than giữa Tập đoàn Than - khoáng sản Việt Nam và Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ninh, các công ty lâm nghiệp được ứng vốn đầu tư trồng rừng để bán các gỗ nguyên liệu cho các công ty than để làm cột chống, cọc chống hầm lò trong quá trình khai thác than. Tính đến hết năm 2015, ngành than đã ứng vốn gần 175,5 tỷ đồng để các đơn vị lâm nghiệp đã trồng mới được trên 10.120 ha; các đơn vị lâm nghiệp đã trả nợ gỗ mỏ cho ngành Than khoảng 98.000 m3. Một số đơn vị lâm nghiệp có số tiền ứng vốn và khối lượng trả nợ gỗ trụ mỏ cho ngành than lớn như Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Cẩm Phả (21.255 m3); Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Liêu (13.649 m3); Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiên Yên (12.395 m3)…

b. Nhận định về thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ rừng trồng tại tỉnh Quảng Ninh

            Tỉnh Quảng Ninh có tổng diện tích rừng trồng khoảng gần 280.000 ha, tập trung nhiều ở các huyện Bình Liêu, huyện Ba Chẽ, huyện Tiên Yên và huyện Hoành Bồ. Loài cây trồng rừng chủ yếu hiện nay là loài Keo tai tượng, diện tích đã trồng đạt trên 90% diện tích đất rừng trồng sản xuất tại Quảng Ninh. Hàng năm diện tích rừng trồng ở Quảng Ninh đạt  bình quân từ 9.000 – 10.000 ha, đặc biệt là diện tích rừng sản xuất của Quảng Ninh luôn tăng mạnh theo chiều hướng năm sau diện tích rừng sản xuất được mở rộng nhiều hơn năm trước và sản lượng gỗ khai thác hàng năm cũng ngày càng tăng. Dự tính đến năm 2020 sản lượng gỗ khai thác hàng năm của tỉnh Quảng Ninh ước tính đạt từ 1,5 đến 2 triệu m3/ năm. Đây là nguồn nguyên liệu tiềm năng rất lớn để có thể tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ để ngành công nghiệp chế biến gỗ tại địa phương.

            Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh mặc dù đã có hệ thống các cơ sở chế biến gỗ hoạt động tương đối ổn định, sản phẩm ngày càng phát triển cả về quy mô và chủng loại sản phẩm, thị trường đang dần được mở rộng nhưng hầu hết các sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh Quảng Ninh hiện vẫn chưa có vị trí nổi bật trên các thị trường trong nước và xuất khẩu. Cụ thể như sau:

            Với thị trường trong nước: Các sản phẩm đồ mộc, gỗ xẻ, ván nhân tạo chưa có thương hiệu, chưa đủ yêu cầu về số lượng và chất lượng để chiếm lĩnh các thị trường trong nước, chủ yếu tiêu thụ ngay nội tại các địa phương trong tỉnh.

            Với thị trường xuất khẩu: Sản phẩm xuất khẩu nổi bật là dăm gỗ; tuy nhiên hầu hết các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ lẻ, vùng nguyên liệu chưa đáp ứng được cho nhu cầu chế biến, chưa ổn định và giá cả chưa cao, do vậy lợi nhuận thu được còn nhiều hạn chế. Các sản phẩm ván mỏng (gỗ bóc) và ván ghép thanh bước đầu đã tiếp cận thị trường một số nước trong khu vực (Trung Quốc, Đài loan, Hàn Quốc, Nhật Bản..), tuy nhiên sản lượng và giá trị xuất khẩu còn rất thấp.

4. KHUYẾN NGHỊ PHƯƠNG ÁN ĐẦU TƯ TRỒNG RỪNG CUNG CẤP GỖ TRỤ MỎ TẠI TỈNH QUẢNG NINH        

            Hiện nay Vinacomin đang tích cực cân nhắc và xem xét phương án đầu tư trồng rừng trên các bãi thải mỏ theo hướng trồng rừng phục hồi môi trường kết hợp lấy gỗ trụ mỏ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Có thể nói đây là một cách tiếp cận rất thực tế để qua đó vừa thực hiện được các yêu cầu bảo vệ môi trường của các cơ quan chức năng, vừa tạo ra giá trị kinh tế nhờ việc tận dụng sản phẩm rừng trồng làm vật liệu trụ mỏ phục vụ quá trình khai thác than. Tuy nhiên, sau quá trình tìm hiểu và phân tích thông tin về hiệu quả tài chính của phương án đầu tư trồng rừng cung cấp gỗ trụ mỏ và tiềm năng thị trường tiêu thụ sản phẩm rừng trồng tại tỉnh Quảng Ninh, bài viết này đã chỉ ra một số khuyến nghị cần được lưu ý để góp phần giúp Vinacomin tìm ra phương án đầu tư trồng rừng phục hồi bãi thải tối ưu trong việc bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế.

            Khuyến nghị số 01: Chọn được giống cây trồng và kỹ thuật canh tác phù hợp là điều kiện quan trọng nhất để xây dựng phương án phục hồi môi trường bãi thải

            Do đặc điểm cần phủ xanh nhanh chóng bề mặt bãi thải để chống tạo bụi, chống xói lở, hạn chế rửa trôi chất dinh dưỡng nên cần phải lựa chọn được các loại giống cây trồng phù hợp, đáp ứng được các yêu cầu như: (i) thích nghi được với khí hậu và có sức chịu đựng lâu dài với những biến đổi của thời tiết (nhiệt độ cao, thời gian khô cằn kéo dài...) và với đặc tính lý hóa không thuận lợi của đất đá thải; (ii) có khả năng sinh trưởng nhanh, đặc biệt trong những năm đầu mới trồng, có khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng là các chất khó đồng hóa; (iii) có hệ rễ phát triển mạnh, nhanh và có thể chịu được những biến động bụi vùi lấp, trôi gốc rễ... Chính vì vậy, Vinacomin cần phải tiếp tục duy trì quy trình phủ thảm thực vật và phục hồi môi trường bãi thải theo hai giai đoạn:

            - Giai đoạn 1 (kéo dài từ năm thứ 1 đến năm thứ 5 của bãi thải): Mục đích là ổn định bãi thải, chống xói lở, làm tăng mầu mỡ cho đất. Do vậy cần lựa chọn giống cây có hệ rễ dày, có khả năng cải tạo thành phần dinh dưỡng cho đất đá bãi thải. Một số loài có thể tham khảo như: các loài keo, muồng muồng, điền thanh, cỏ vetiver, sắn dây rừng, bìm bìm, cỏ lau, le, chít...

            - Giai đoạn 2 (kéo dài từ năm thứ 5 trở đi): Mục đích củng cố hệ sinh thái và khai thác giá trị kinh tế trên đất bãi thải đã được cải thiện (nếu phù hợp). Do vậy cần tiến hành đa dạng các loài cây trồng, bổ sung trồng các loại cây thân gỗ (thông, keo, phi lao...), cây công nghiệp (thầu dầu - jatropha...) kết hợp cây tạo cảnh quan (phượng vĩ, bằng lăng, hoa tigôn, hoa giấy...).

            Khuyến nghị số 02: Phương án đầu tư trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ trên bãi thải đòi hỏi chi phí lớn nhưng hiệu quả đầu tư có thể không cao

            Kết quả phân tích phương án đầu tư trồng rừng cung cấp gỗ mỏ ở trên cho thấy: Dù là trong điều kiện trồng rừng bình thường như hiện nay ở tỉnh Quảng Ninh cũng đòi hỏi chi phí lớn nhưng hiệu quả đầu tư không cao (kể cả được hỗ trợ về chi phí tài chính). Nếu thực hiện phương án đầu tư trồng rừng cung cấp gỗ mỏ trên bãi thải thì có thể sẽ phát sinh thêm nhiều chi phí (cả về chi phí trung gian và công lao động trực tiếp), làm cho lợi nhuận có thể bị cắt giảm. Vì vậy, nếu vẫn cứ lựa chọn phương án đầu tư trồng rừng sản xuất gỗ trụ mỏ trên bãi thải thì Vinacomin cần phải đầu tư thêm các nghiên cứu về tổ chức sản xuất và xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, tránh thất thoát lãng phí vốn, đồng thời tích cực thay đổi công nghệ sản xuất mới để gia tăng năng suất sản phẩm rừng trồng.

            Khuyến nghị số 03: Cần phải ưu tiên tính học để phục hồi hệ sinh thái; tích cực áp dụng công nghệ mới trong sản xuất để gia tăng năng suất

            Để đảm bảo tính đa dạng và thúc đẩy nhanh quá trình diễn thế sinh thái phục hồi môi trường thì cần ưu tiên lựa chọn những cây bản địa để gây trồng (có khả năng thích nghi nhanh và chống chịu tốt hơn với môi trường khắc nghiệt). Trong kỹ thuật trồng cây cần tăng kích thước hố trồng để tăng lượng đất bón lót ban đầu, phải có nghiên cứu chi tiết về mật độ cây trồng, bố trí phối hợp cậy trồng để tạo ra nhiều tầng tán và sử dụng lượng phân bón phù hợp đối với từng lời cây, từng khu vực trồng rừng. Ở Việt Nam, hiện cũng đã có một số cải tiến công nghệ trong việc trồng cây phục hồi môi trường trên bãi thải như: Công nghệ trồng Keo trên bầu hữu cơ siêu nhẹ (đảm bảo tỷ lệ sống cao sau khi trồng, vỏ bầu có khả năng tự tiêu đảm bảo về vấn đề môi trường ...); màng Polyme siêu hấp thụ nước (ảnh hưởng tích cực lên quá trình sinh trưởng và phát triển của các loại cây họ đậu); giống cây trồng bản địa là cây Sở, cây Trẩu và cây Đậu Dầu sống được ở điều kiện ít chất dinh dưỡng, cây mọc nhanh, hệ rễ chắc, có giá trị kinh tế (có thể cung cấp gỗ, dầu hạt có khả năng chế biến thành dầu diezel sinh học).

            Khuyến nghị số 04: Chủ động thực hiện công tác quản lý phòng, chống cháy rừng trên bãi thải

            Trong quá trình thực hiện quy trình phục hồi môi trường bãi thải nhấn mạnh vào việc gia tăng mật độ cây trồng để tạo ra nhiều tầng tán (giữ nước, cố định đất, phân giải chất dinh dưỡng tạo lớp mùn hữu cơ), đặc biệt là giai đoạn ban đầu. Các cây trồng đã được lựa chọn chủ yếu phải là cây mọc nhanh có chu kỳ vòng đời phát triển ngắn để nhanh chóng tạo ra lớp thảm thực vật dày. Tuy vậy, thảm thực vật dày này cũng tạo ra nguy cơ cháy rất cao, đặc biệt trong mùa khô hanh. Vì vậy, trong phương án trồng rừng trên bãi thải phải đặc biệt chú ý thiết kế hệ thống phòng chống cháy rừng (bố trí băng cản lửa, biển cảnh báo, tuần tra rừng ...). Bên cạnh đó, cần phải tích cực đầu tư nghiên cứu chọn lựa các loại cây trồng phù hợp để nâng cao chất lượng rừng cả về giá trị môi trường và kinh tế./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đỗ Thị Lâm, 2003. Tuyển chọn một số loài cây và kỹ thuật gây trồng để cố định bãi thải tại các mỏ than ở vùng Đông Bắc, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 12/2003.

2. Hoàng Liên Sơn và cộng sự, 2016. Nghiên cứu đề xuất mô hình liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất kinh doanh gỗ và sản phẩm gỗ rừng trồng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

3. Lê Đình Thành, Nguyễn Thế Báu, 2012. Nghiên cứu đề xuất giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường mỏ than Lộ Trí, Quảng Ninh. Tạp chí Khoa học Thủy lợi và Môi trường số 39 (2012), 34-40.

4. Lê Thị Nguyên, 2013. Nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật cải tạo, phục hồi bãi thải sau khai thác than (thí điểm tại bãi thải Chính Bắc - Công ty cổ phần than Núi Béo – Vinacomin). Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội.

5. Ngô Thanh Sơn, 2013. Quản lý môi trường trong quá trình khai thác và hoàn nguyên tại mỏ than Hồng Thái, tỉnh Quảng Ninh. Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Nguyễn Văn Khôi và cộng sự, 2011. Ảnh hưởng của polyme siêu hấp thụ nước đến sự sinh trưởng, phát triển của các loài cây họ Đậu trồng trên bãi thải khai thác than – mỏ than Núi Hồng - tỉnh Thái Nguyên. Tạp chí Khoa học và Công nghệ số 49 (2011), 99-104.

7. Phạm Thế Tấn, 2015. Thực trạng thị trường đầu ra cho sản phẩm gỗ rừng trồng tại tỉnh Quảng Ninh. Vụ Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế, Tổng cục Lâm nghiệp.

8. Phạm Thế Tấn và cộng sự, 2015. Phân tích hiệu quả kinh tế mô hình rừng trồng Keo tai tượng tại vùng Đông Bắc Bộ với các chu kỳ kinh doanh khác nhau. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.

9. Tổng Công ty Than Việt Nam. Dự án: “Quy hoạch trồng rừng và sử dụng đất lâm nghiệp của ngành Than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”, 1999.

10. Trần Miên, 2006. Một số định hướng ban đầu trong cải tạo phục hồi môi trường các bãi thải than. Hội nghị khoa học kĩ thuật mỏ toàn quốc lần thứ XVII, (2006), 639-643.

11. Trần Miên, 2012. Cải tạo, phục hồi môi trường bãi thải mỏ than trong điều kiện Việt Nam. Báo Năng lượng Việt Nam (30/05/2012).

12. Trần Thanh Cao và cộng sự, 2012. Phân tích ngành hàng gỗ nhằm đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng ở Việt Nam. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

 


[1] Kết quả phân tích tài chính trong bài viết này dựa trên phương án trồng rừng của CTLN Cẩm Phả để cung ứng gỗ trụ mỏ cho CTT Mông Dương.


KHUYẾN NGHỊ PHƯƠNG ÁN ĐẦU TƯ TRỒNG RỪNG PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG BÃI THẢI NGÀNH THAN TẠI TỈNH QUẢNG NINH
2018-12-06 10:55:25

Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam là một đơn vị đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ môi trường, hoàn nguyên môi trường sau khai thác than, thể hiện qua việc tích cực triển khai thực hiện nhiều dự án đầu tư trồng rừng phục hồi môi trường trên bãi thải trong những năm gần đây. Hiện nay, có một bài toán đang đặt ra đối với Vinacomin là sự phù hợp của phương án đầu tư trồng rừng trên các bãi thải mỏ theo hướng trồng rừng phục hồi môi trường kết hợp lấy gỗ trụ mỏ phát triển kinh tế rừng tại Quảng Ninh.

Xem thêm

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ TRONG LÂM NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
2018-12-06 10:32:34

Tại Việt Nam, các mô hình Hợp tác xã (HTX) đang được xem như là một giải pháp hữu hiệu để tổ chức quản lý sản xuất trong lĩnh vực lâm nghiệp, bởi vì chi phí thấp và thủ tục đơn giản để xây dựng và vận hành tổ chức. Chính phủ đã ban hành rất nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ để thúc đẩy HTX lâm nghiệp phát triển. Tuy nhiên, phát triển HTX lâm nghiệp vẫn còn rất nhiều thách thức, bởi nhiều chính sách vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của các HTX lâm nghiệp trong thực tế.

Xem thêm

Khai thác phát triển rừng gắn với trang trại bền vững
2017-10-31 09:34:54

(Cổng ĐT HND) – Sáng nay (27/10), tại Hà Nội, Hội NDVN phối hợp với FAO tổ chức Hội nghị tổng kết và chia sẻ kinh nghiệm thực hiện Chương trình Hỗ trợ trồng rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam giai đoạn I (2015- 2017).

Xem thêm

Phú Thọ: Chương trình FFF tham quan, học tập tại Hòa Bình, Thái Nguyên, Hà Nội
2017-10-12 10:32:26

16:48 - 09/10/2017 (Cổng ĐT HND) - Từ ngày 5 - 7/10, Ban Quản lý Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) tỉnh tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm các mô hình sản xuất hiệu quả tại 3 tỉnh, thành: Hòa Bình, Hà Nội, Thái Nguyên. Tham gia đoàn có các cán bộ, thúc đẩy viên cấp tỉnh, cấp huyện của Chương trình FFF, các thành viên của 2 Tổ hợp tác xã Quế Lâm, Chân Mộng huyện Đoan Hùng.

Xem thêm

Forest and Farm Facility in Viet Nam Synthesis 2016.
2017-10-03 15:34:35

The FFF Overall objective The small scaled farms and forest households, ethnic minority people have better life; their livelihood and income are improved and stably ensured from farm and forest sustainable management and production to contribute in poverty reduction.

Xem thêm

Producing organic cinnamon - a new direction for farmers in Dao Thinh commune, Tran Yen district, Yen Bai province
2017-10-03 15:33:11

09:11 - 27/04/2017 The Forest and Farm Facility (FFF) is implemented by Vietnam Farmers' Union (VNFU) in Yen Bai province. In recent years, as implementor of VNFU at provincial level, Yen Bai Farmers’ Union has carried out many activities of FFF on capacity building for farmers' members and FU staff; establishing and reorganizing collective groups and cooperatives; building up sustainable agro-forestry production models; building up linkage and cooperation relationship between enterprises with forest and

Xem thêm

Phóng sự ảnh FFF tham gia Hội chợ hàng Việt 2017 tại Hà Nội và tổ chức Hội thảo kết nối các THT, HTX với thị trường
2017-10-03 14:43:18

Phóng sự ảnh FFF tham gia Hội chợ hàng Việt 2017 tại Hà Nội và tổ chức Hội thảo kết nối các THT, HTX với thị trường 15:37 - 29/09/2017

Xem thêm

Hiệu quả từ Hội nghị bàn tròn cấp xã
2017-10-03 14:41:57

(Cổng ĐT HND)- Trong khuôn khổ thực hiện chương trình hỗ trợ rừng và trang trại FFF tại tỉnh Yên Bái do TW Hội Nông dân Việt Nam triển khai, nhờ hiệu quả từ Hội nghị bàn tròn cấp xã, UBND xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên (Yên Bái) đã giải quyết một số vướng mắc cho người dân.

Xem thêm

Cải thiện sinh kế và thu nhập cho nông dân trồng rừng: Cần tìm hướng đi đúng
2017-10-03 14:40:54

(Cổng ĐT HND) - Nhằm giúp các hộ gia đình sản xuất trang trại và rừng, đồng bào dân tộc thiểu số có cuộc sống tốt hơn; cải thiện sinh kế và thu nhập, đảm bảo ổn định từ sản xuất trang trại và quản lý rừng bền vững, góp phần xóa đói giảm nghèo, chiều nay (21/9), tại Hà Nội, chương trình Hỗ trợ rừng và trang trại (FFF) Trung ương Hội NDVN tổ chức Hội thảo kết nối các tổ chức sản xuất rừng và trang trại với thị trường.

Xem thêm

Yên Bái: Nông dân tăng lợi nhuận khi tham gia trồng rừng theo tiêu chuẩn bền vững
2017-10-03 14:39:39

NHÀ NÔNG CẦN BIẾTCT HỖ TRỢ RỪNG - TRANG TRẠI TIN MỚI NHẤT Hội ND tỉnh và công an tỉnh Thái Bình: Tăng cường phòng, chống tội phạm giai đoạn 2017 – 2021 Tiêu hủy 3.750 con lợn bơm thuốc an thần do dịch lở mồm long móng Thủ tục thiết lập khu chợ biên giới Việt - Trung Hội ND thành phố Hà Nội: Liên hoan tiếng hát cán bộ chuyên trách Yên Bái: Trồng bưởi Diễn giúp nông dân xóa đói nghèo Tôi đánh vợ là đúng hay sai Cảm phục anh nông dân bỏ ra 200 triệu đồng sửa đường cho dân đi Sản xuất lúa giống yên tâm đầu r

Xem thêm

“Lấy người học làm trung tâm” trong đào tạo nâng cao năng lực cho các THT/HTX thuộc Chương trình FFF
2017-10-03 14:38:22

16:23 - 11/08/2017 (Cổng ĐT HND)- Bạn sẽ ngạc nhiên khi nghe một tổ trưởng THT trình bày bản kế hoạch kinh doanh rừng và trang trại với sự hỗ trợ của bản trình chiếu. Một cán bộ HND điều hành thành công hội nghị bàn tròn, thảo luận về các chính sách phát triển rừng và trang trại với Chính quyền và đại diện các cơ quan liên quan; hay một thành viên THT giới thiệu lưu loát về THT sản xuất và chế biến gỗ của mình...

Xem thêm

Phát huy lợi thế của Hội nông dân Việt Nam trong việc hỗ trợ các tổ chức sản xuất rừng và trang trại
2017-10-03 14:37:39

(Cổng ĐT Hội ND)- Qua 02 năm thực hiện Chương trình Hỗ trợ sản xuất rừng và trang trại (FFF), Hội ND đã phát huy những lợi thế hiện có của mình để chủ động thực hiện và thúc đẩy việc thực hiện các bước nhằm hỗ trợ Các tổ chức của người sản xuất rừng và trang trại (FFPO).

Xem thêm

Phóng sự ảnh về hoạt động của FFF Trung ương
2017-10-03 14:36:34

Phóng sự ảnh về hoạt động của FFF Trung ương

Xem thêm

FFF Yên Bái:Triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nông dân
2017-10-03 14:35:38

(Cổng ĐT HND)- Thực hiện chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam triển khai tại tỉnh Yên Bái. Trong thời gian qua, Hội Nông dân tỉnh đã phối hợp triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ, hội viên nông dân; thành lập các tổ hợp tác, xây dựng các mô hình phát triển sản xuất nông lâm nghiệp bền vững; kết nối các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông lâm nghiệp với hội viên, nông dân sản xuất rừng và trang trại.

Xem thêm

Bắc Kạn: Thành công nhờ hỗ trợ của FFF 16:47 - 18/07/2017
2017-10-03 14:33:56

(Cổng ĐT HND)- Sau 2 năm (từ 2015- 2016) triển khai thực hiện chương trình FFF tại tỉnh, Hội ND Bắc Kạn đã thành lập được 5 Tổ hợp tác sản xuất rừng và trang trại trên địa bàn xã Chu Hương và xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể. Điển hình như Tổ hợp tác trồng rừng Mạy Phấy, xã Chu Hương.

Xem thêm

Nông dân tham gia FFF: Thêm nhiều cơ hội từ rừng
2017-10-03 14:32:53

10:56 - 15/06/2017 (Cổng ĐT HND)- Sau thời gian Hội NDVN triển khai chương trình FFF tại Việt Nam đã thu được những kết quả bước đầu. Đã có thêm 9 Tổ hợp tác (THT) được thành lập, 996 hộ nông dân trồng rừng tham gia THT, các thành viên HTX đã sản xuất được các sản phẩm bán ra thị trường…

Xem thêm

Hội Nông dân- Cánh tay nối dài của FFF tại Việt Nam
2017-10-03 14:30:54

(Cổng ĐT HND)- Tại Việt Nam, Hội NDVN  là đơn vị  được Chương trình hỗ trợ rừng và Trang trại (FFF) lựa chọn là đối tác chính để thực hiện.

Xem thêm

Tổng quan về Chương trình hỗ trợ rừng và trang trại
2017-10-03 14:29:14

(Cổng ĐT HND)- Chương trình hỗ trợ rừng và trang trại (FFF) là một chương trình gồm nhiều nhà tài trợ, nằm trong Phân ban Kinh tế, Chính sách và Sản phẩm rừng (FOE) thuộc Ban Lâm nghiệp của Tổ chức Nông Lương của Liên hợp quốc (FAO) và được quản lý bởi một cơ chế đối tác giữa FAO, Viện Quốc tế về Môi trường và Phát triển (IIED), Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN).

Xem thêm

Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF): Nông dân đã biết liên kết, nâng cao giá trị hàng hóa
2017-10-03 14:27:45

(Cổng ĐT HND) - Chiều (08/4), tại Hà Nội, Phó Chủ tịch Trung ương Hội NDVN Lều Vũ Điều tiếp và làm việc với đoàn Đánh giá giữa kỳ Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam do ông James K. Gasana làm trưởng đoàn.

Xem thêm

Chương trình Hỗ trợ rừng và trang trại đồng hành cùng người dân
2017-07-19 22:15:36

Chương trình Hỗ trợ rừng và trang trại (FFF) được tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc tài trợ và do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam chủ trì thực hiện. Sau 2 năm triển khai thực hiện tại tỉnh Bắc Kạn (từ năm 2015 đến 2016) đã thành lập được 5 Tổ hợp tác sản xuất rừng và trang trại trên địa bàn xã Chu Hương và xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể. Điển hình như Tổ hợp tác trồng rừng Mạy Phấy, xã Chu Hương.

Xem thêm

2 năm chương trình rừng và trang trại: Thu nhập của ND tăng 3-12%
2017-07-17 07:48:12

(Dân Việt) Đến nay, sau 2 năm thực hiện chương trình Rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam, đã có 9 tổ hợp tác, hợp tác xã với 159 thành viên được hưởng lợi với 5 chuỗi sản phẩm gồm: Gỗ keo, gỗ mỡ, quế, hồi và chè được hình thành. Thu nhập bình quân của các Tổ hợp tác tăng từ 3 – 12%.

Xem thêm